GÁNH NẶNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH THẦN KINH NGOẠI VI DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
Notice bibliographique
Résumé
Bệnh thần kinh ngoại vi do đái tháo đường ở giai đoạn nặng gây khó khăn trong việc tự chăm sóc bản thân và là yếu tố khiến cho bệnh nhân mắc bệnh này phụ thuộc nhiều vào người chăm sóc, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và đời sống xã hội của người chăm sóc. Mục tiêu: Phân tích gánh nặng của người chăm sóc của người bệnh mắc bệnh thần kinh ngoại vi mức độ nặng do đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 7 năm 2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 người chăm sóc của bệnh nhân được chẩn đoán Bệnh thần kinh ngoại vi do đái tháo đường theo tiêu chuẩn của hiệp hội Toronto Diabetic Neuropathy Expert. Gánh nặng của người chăm sóc được đánh giá dựa trên thang điểm Zarit và phân tích mối liên quan với các đặc điểm của bệnh nhân và người chăm sóc. Kết quả: Tuổi trung bình của người chăm sóc là 47.11 ± 9.26. Gánh nặng chăm sóc trung bình của người chăm sóc theo thang điểm Zarit là 28.56 ± 11.12. Trong đó có 45/64 (70.3%) số người chăm sóc có mức gánh nặng chăm sóc từ trung bình trở lên. Các yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc bao gồm mối quan hệ giữa bệnh nhân và người chăm sóc, thời gian chăm sóc, thời gian hằng ngày dành cho chăm sóc. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân làm tăng mức gánh nặng chăm sóc là đau và yếu cơ. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy việc chăm sóc người bệnh mắc bệnh thần kinh ngoại vi do đái tháo đường type 2 mức độ nặng tạo ra gánh nặng cho người chăm sóc chính không chỉ về mặt thể chất mà còn về mặt tinh thần, xã hội.
Récupéré en direct depuis OpenAlex et désinversé. Les résumés ne sont pas conservés dans cette base de données : les index inversés représentent 8,6 Go des 9,3 Go de texte de la base, et le serveur dispose de 13 Go libres.
Comment cette classification a été obtenuedéplier
Prédiction distillée sur la base complète
Imitation des enseignantsNi prévalence calibrée, ni vérité terrain. Validation humaine à venir. Apprise à partir de 10 348 étiquettes directes de Codex et de 10 348 étiquettes directes de Gemma. Le mode candidate est l'union des têtes enseignantes seuillées; le consensus est leur intersection. Ces sorties portent le statut machine_predicted_unvalidated et ne sont ni des étiquettes humaines ni des étiquettes directes de modèles de pointe.
Scores Codex et Gemma par catégorie
| Catégorie | Codex | Gemma |
|---|---|---|
| Métarecherche | 0,003 | 0,002 |
| Méta-épidémiologie (sens strict) | 0,001 | 0,001 |
| Méta-épidémiologie (sens large) | 0,001 | 0,001 |
| Bibliométrie | 0,000 | 0,004 |
| Études des sciences et des technologies | 0,002 | 0,002 |
| Communication savante | 0,001 | 0,001 |
| Science ouverte | 0,003 | 0,005 |
| Intégrité de la recherche | 0,001 | 0,002 |
| Charge utile insuffisante (le modèle a refusé de juger) | 0,011 | 0,056 |
Scores machine (provisoires)
Les deux têtes enseignantes du modèle étudiant, lues sur ce travail. Un score ordonne la base pour la relecture; il n'affirme jamais une catégorie, et le statut de validation accompagne chaque rangée tel quel.
Scores de référence d'un modèle non mature (critères de maturité non atteints, 7 itérations). Un score ordonne; il n'affirme jamais une catégorie.
score_only:v0-immature-baseline · tel quel depuis la passe de notation : score_only signifie que le nombre peut ordonner les travaux, et qu'aucune étiquette de catégorie n'en découleClassification
machine, non validéePrédiction automatique; les deux têtes enseignantes s’accordent sur ce qui est montré ici.
Le détail, modèle par modèle et score par score, se trouve en fin de page sous « Comment cette classification a été obtenue ».